Sau đồng Đô-la
Hỏi liệu những vấn đề nhức nhối hiện tại của Hy Lạp có là cầu nối giữa tình trạng khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 với một cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu sắp diễn ra? Hệ thống tiền tệ thế giới đã được định hình vào giữa những năm 40 ngay sau thế chiến thứ hai và được tái định đầu những năm 70 sau cú sốc về giá dầu lần thứ nhất. Trong cả hai lần, sự xáo trộn kinh tế toàn cầu đều khiến cho hệ thống tiền tệ bị đảo lộn. Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu chính sách thả nổi đồng tiền hiện nay cùng với những giao dịch và dự trữ dựa trên đồng Đô-la có xóa bỏ được những vết ố của việc điều chỉnh kinh tế toàn cầu phía trước. Chúng tôi nghĩ đã đến lúc phải xem xét đến những khả năng khác.
Trong một báo cáo được phát hành bởi Chatham House ngày hôm nay, chúng tôi tranh luận rằng chính sự phân chia không rành mạch và sự tiềm ẩn những giá trị phân chia không công bằng của những khoản chi tiêu bắt buộc nằm dưới hệ thống tiền tệ thế giới hiện nay đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tiền tệ và chủ nghĩa bảo hộ khi các quốc gia đang ra sức bảo đảm cho việc phục hồi kinh tế của mình. Hệ thống thương mại thế giới đã cho thấy một khả năng phục hồi nhanh bất thường trong và sau khủng hoảng như là một nền tảng được WTO xây dựng lên trong suốt mấy thập kỷ qua mà nó đã tạo ra một hàng rào bảo vệ hiệu quả để chống lại chủ nghĩa bảo hộ. Thế nhưng hệ thống này lại thiếu một nền tảng về thể chế và vì thế dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết.
Hệ thống tiền tệ hiện tại cũng không phù hợp để thích ứng với những thử thách mới đặt ra khi nền kinh tế toàn cầu dịch chuyển về Châu Á. Con đường mà những nền kinh tế lớn nhất toàn cầu đang theo đuổi chứa đựng những hạt mầm của những bất đồng mà nó có thể thổi bùng lên một cuộc khủng hoảng kế tiếp. Ở Mỹ, việc ưu tiên yếu tố nội để tiêu dùng và phát triển ám chỉ một chính sách khơi mào cho sự quan liêu liên quan đến đồng đô-la mà, nhìn chung, sẽ làm cho đồng đô-la suy yếu. Sự mạnh lên của đồng đô-la hiện tại đang ngầm phán ánh một lập trường của thế giới có phần ác cảm đối với đồng đô-la. Trong khi đó, Trung Quốc- nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới cũng là người nắm giữ nhiều đồng Đô-la nhất đang liều lĩnh dưới sức ép của lạm phát bằng cách giữ đồng tiền của mình ràng buộc chặt vào đồng Đô-la và quốc gia này, do lo e sợ sự thiếu tính bền vững và mất giá trị dự trữ ngoại tệ của đồng Đô-la, đã nới lỏng sự ràng buộc đó.
Đến lượt mình, chính phủ của những quốc gia thuộc khu vực đồng tiền Euro lại đang gặp khó khăn trong việc duy trì sự bình ổn trong nội bộ khối khi một vài nước thành viên đang phải đối mặt với những khó khăn về thâm hụt ngân sách ở mức kỷ lục mà không thể thoát khỏi một cuộc suy thoái khi buộc phải có những điều chỉnh đau đớn dưới khuôn khổ của những nguyên tắc điều chỉnh thị trường đồng Euro. Ở những nước có nền kinh tế lớn hơn và những nền kinh tế mới hội nhập, sự phụ thuộc quá mức vào đồng Đô-la trong cả giao dịch và dự trữ ngày càng trở nên ảm đạm. Vì thế không ngạc nhiên khi Trung Quốc với 2 tỷ tỷ Đô-la dự trữ đang lo ngại về sự mong manh của hệ thống tiền tệ và không ngạc nhiên khi OPEC đang tìm cách khác để định giá dầu lửa.
Trong khi lý do căn bản là thế thì bất cứ cuộc trốn chạy đột ngột nào khỏi đồng Đô-la đều mang trong mình những rủi ro lớn của việc phá vỡ và sụp đổ của những dòng chảy thương mại và chứng khoán. Vì thế hệ thống tiền tệ bị khóa trong một khung vững chãi của sự bất cân bằng nơi mà “giữ nguyên trạng” là lựa chọn ít rủi ro nhất cho hầu hết những người trong cuộc trong một thời gian ngắn.
Xét về dài hơi, chúng tôi tin tưởng rằng, chế độ đa tiền tệ là chế độ tốt nhất để có thể ủng hộ một nền kinh tế đa cực được khỏe mạnh và mềm dẻo. Chúng tôi cũng không chủ trương hay kỳ vọng vào sự chuyển đổi đột ngột nào nhằm thoát khỏi đồng Đô-la như là đồng tiền chính trong giao thương và dự trữ quốc tế. Nhưng chúng tôi muốn đề xuất một quá trình chuyển đổi trong đó quỹ tiền tệ thế giới IMF hỗ trợ việc phát triển rộng rãi việc sử dụng Quyền rút vốn đặc biệt SDR, cả hai đồng tiền này (đồng Đô-la và đồng SDR) như là một nguồn thay thế cho các quốc gia với mục đích dự trữ cũng như trao đổi hàng hóa như dầu lửa và khí đốt.
Bởi vì đồng SDR được định nghĩa một cách rõ ràng bằng rổ ngoại tệ bao gồm những đồng tiền mạnh được sử dụng phổ biến trong tài chính và thương mại trên thế giới – đồng Đô-la, đồng Euro, đồng Yên Nhật, đồng bảng Anh – nên việc sử dụng những đồng tiền này trong việc định giá dầu thô và dự trữ sẽ ngăn chặn được những tác động của việc dịch chuyển những đồng tiền chính. Đồng SDR sẽ được định giá lại 5 năm 1 lần và có thể là rổ tiền tệ sẽ có thêm đồng Rê-an Braxin trước năm 2015 và đồng Nhân dân tệ Trung Quốc trước năm 2020. Với tư cách là một thể chế độc lập, IMF có một vị thế phù hợp để nhìn tổng thể quá trình này và cung cấp một hệ thống thanh toán và những tài khoản con để tạo điều kiện cho đồng SDR dễ tiếp cận, an toàn khi sử dụng và có thể sử dụng không phải với mục đích công. Chúng tôi cũng chủ trương tăng cường sự giám sát và minh bạch hóa những chính sách của quỹ IMF.
Có một mâu thuẫn căn bản trong quá trình chuyển dịch về một nền kinh tế thế giới đa cực và sự xuất hiện của những đồng tiền làm bá chủ thế giới. Nếu điều này không được giải quyết thì khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ có thể cho cả thế giới thấy một sự chấn động mạnh không kém gì những trận động đất đang tới gần. Không có những quốc gia nào có thể nổi lên và làm bá chủ như Mỹ đã làm được sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là phải ngừng ngay việc tìm kiếm một hệ thống tiền tệ thế giới mới cho phép các quốc gia đi cùng chiều với thặng dư và thâm hụt tích lũy có được lãi ròng trong khi vẫn chịu được những áp lực thuộc về năng lực và hệ thống đối với cán cân thương mại cân bằng hơn. Đây chính là điểm mà hệ thống tiền tệ dựa vào đồng Đô-la không thể làm được và cũng chính là điểm thúc đẩy để đàm luận trong hội nghị thượng đỉnh G-20.
Theo The Wall Street Jounal, bài “After the Dollar”, ngày 19-21 tháng 3, 2010.
Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010
Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010
Tiếng Anh của tôi
Nhân chuyện đọc được một số bài báo nói về kinh nghiệm học ngoại ngữ, tôi có một vài điều ngẫm ra về chuyện học ngôn ngữ của mình sau một thời gian 2,5 năm sống và học tập tại Châu Âu trong một môi trường nói tiếng Anh gần như hoàn toàn.
Một ngày nắng đẹp, ngồi trong căn tin của trường, tôi nói chuyện với một anh bạn người Anh. Cuộc nói chuyện cởi mở xung quanh việc nói và viết tiếng Anh. Anh bạn Alexer há hốc mồm khi nghe tôi kể chuyện học tiếng Anh lấy chứng chỉ A, B, C của Việt Nam. Như để động viên tôi, anh này nói thêm rằng, mình chưa bao giờ viết một bài báo cáo hay tiểu luận nào bằng tiếng Anh cả. “Ảnh” nói sau khi đọc cuốn tiểu luận dài khoảng 30 trang của tôi rằng, tôi thấy bạn viết tiếng Anh còn hay hơn cả tôi. Hình như cảm giác này của anh giống như cảm giác của tôi sau khi đọc blog “tớ là Dâu” thì phải. Mặc cho lời nói của ảnh có thành thực hay không, mũi tôi cũng phổng lên một cách đáng nể khi một người Anh bảo rằng: tiếng Anh của tôi hay hơn của họ. Phải chi tôi nghe câu này lúc tôi còn bé thì tôi cũng cố gắng tin là tiếng Anh của mình giỏi lắm. Nhưng lớn mất rồi.
Ngày bé tôi nghĩ rằng, khi nào mình ngủ mơ cũng nói tiếng Anh trong giấc mộng, khi đó mình sẽ giỏi tiếng Anh như người Anh. Thật ra, đó là một suy nghĩ sai lầm với đầy đủ tính dễ thương của nó. Cách đây không lâu, tôi đã nhiều lần mơ bằng tiếng Anh, trong giấc mơ tôi đã tranh cãi kịch liệt điều gì đó với mấy bạn người Pakistan hay Oman (chẳng hiểu sao tôi rất hay mơ về họ, nhất là khi nào tranh cãi về đề tài diễn ra nảy lửa lúc chiều hay trước đó), lúc đó tôi đã nghĩ “I am there, now”. Nhưng thực ra không phải vậy, tiếng Anh của tôi tuy không lủng củng bằng dạo trước nhưng còn xa mới bằng được người Anh hay ít nhất là còn xa so với tiếng Việt của tôi.
Một sai lầm nữa của tôi khi nghĩ rằng, tôi sẽ không bao giờ quên tiếng Việt. Hẳn nhiều người sống ở Việt Nam và giỏi nhiều ngoại ngữ khác cũng sẽ có cùng suy nghĩ rằng, tiếng Việt không thể nào có thể quên. Họ và tôi đã lầm. Tiếng Việt hoàn toàn có thể quên. Mới có 2,5 năm không nói tiếng Việt thường xuyên, tôi đã bắt đầu viết sai chính tả nhiều và đã phải nhiều lần nhờ đến sự trợ giúp của bác “Lạc Việt”. Gọi điện thoại hay nói chuyện với gia đình thì nhiều lúc phải ngẩn ra mới nhớ được từ hay phải dùng nhiều từ khác để mô tả như “anh trai của vợ gọi là gì?”… “anh rể!” – À đúng rồi, “anh rể”. Tôi nghĩ, đó không phải là hiện tượng quên hoàn toàn mà là hiện tượng quên tạm thời khi tiếng mẹ đẻ không được sử dụng nhiều. Tuy vậy, nếu quan sát những du học sinh rời khỏi Việt Nam ngay từ lúc mới là học sinh phổ thông, việc quên tiếng Việt xảy ra rất nhiều và họ sẽ viết blog với nhiều lỗi sai văn phạm, sai chính tả thường thấy.
Hiện tại, tôi đang học tiếng Hà Lan. Cô giáo vào lớp với những bài giảng vô cùng thực tế. Cô giáo dạy tiếng Hà Lan bằng chính tiếng Hà Lan và nội dung được thiết kế không phải là những áng văn chương tuyệt tác, không phải là mô tả xem cây chà là lớn lên như thế nào, không phải là tường thuật lại một trận đánh hào hùng của hoàng đế Napoleon vĩ đại… Bài giảng là cách đi metro và những phương tiện giao thông công cộng thế nào, ở trong lớp cần biết những câu như “tôi không hiểu”, “cái này nghĩa là gì”, “làm ơn nói chậm lại”, từ nào cần biết để đi siêu thị, từ nào cần biết để hỏi đường… Tiếng Hà Lan thuộc dòng ngôn ngữ “giéc-măng” nên rất khó. Thế mà chỉ trong chưa đầy 2 tháng, từ chỗ tôi không nói một câu tiếng Hà Lan, nay tôi đã có thể hiểu được rất nhiều từ khi mua sắm, rất nhiều câu khi hỏi giờ tàu, hỏi đường xá…
Điều đáng nói là ở đây ai cũng nói được tiếng Hà Lan và tiếng Pháp như là tiếng bản địa. Nếu theo cách làm của Việt Nam thì có thể suy ra, ai cũng có thể dạy được tiếng Hà Lan và tiếng Pháp. Nhưng không, cô giáo của tôi có một kỹ năng giải thích thật kỳ diệu, cô ấy cần phải tốt nghiệp đại học về ngành linguistics mới có thể phát âm và diễn giải. Một điều thú vị là ngay cả một nước nhỏ như nước Bỉ, từng vùng khác nhau đã có phương ngữ khác nhau. Sau này chúng tôi sẽ được học một bài về dialects; cô giáo bảo, cố gắng hiểu nó nhưng đừng sử dụng nó.
Nói tản mạn vậy thôi. Tôi tự nhủ với mình, ngôn ngữ nào không dùng đến thì đều có thể quên bất kể là ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ. Là một nghiên cứu sinh ngành Kinh tế ứng dụng, tôi có nghĩa vụ phải đọc báo từng ngày. Tôi chọn tờ “The Wall Street Journal” mà Nhà trường phát. Tự hứa một tuần 3 buổi sẽ dịch một bài báo sang tiếng Việt; trước là để luyện tiếng Anh, sau là để không quên tiếng Việt.
Rồi bạn sẽ thấy, ngày mai blog mình sẽ có mục “Dịch báo dùm bạn”.
Nhân chuyện đọc được một số bài báo nói về kinh nghiệm học ngoại ngữ, tôi có một vài điều ngẫm ra về chuyện học ngôn ngữ của mình sau một thời gian 2,5 năm sống và học tập tại Châu Âu trong một môi trường nói tiếng Anh gần như hoàn toàn.
Một ngày nắng đẹp, ngồi trong căn tin của trường, tôi nói chuyện với một anh bạn người Anh. Cuộc nói chuyện cởi mở xung quanh việc nói và viết tiếng Anh. Anh bạn Alexer há hốc mồm khi nghe tôi kể chuyện học tiếng Anh lấy chứng chỉ A, B, C của Việt Nam. Như để động viên tôi, anh này nói thêm rằng, mình chưa bao giờ viết một bài báo cáo hay tiểu luận nào bằng tiếng Anh cả. “Ảnh” nói sau khi đọc cuốn tiểu luận dài khoảng 30 trang của tôi rằng, tôi thấy bạn viết tiếng Anh còn hay hơn cả tôi. Hình như cảm giác này của anh giống như cảm giác của tôi sau khi đọc blog “tớ là Dâu” thì phải. Mặc cho lời nói của ảnh có thành thực hay không, mũi tôi cũng phổng lên một cách đáng nể khi một người Anh bảo rằng: tiếng Anh của tôi hay hơn của họ. Phải chi tôi nghe câu này lúc tôi còn bé thì tôi cũng cố gắng tin là tiếng Anh của mình giỏi lắm. Nhưng lớn mất rồi.
Ngày bé tôi nghĩ rằng, khi nào mình ngủ mơ cũng nói tiếng Anh trong giấc mộng, khi đó mình sẽ giỏi tiếng Anh như người Anh. Thật ra, đó là một suy nghĩ sai lầm với đầy đủ tính dễ thương của nó. Cách đây không lâu, tôi đã nhiều lần mơ bằng tiếng Anh, trong giấc mơ tôi đã tranh cãi kịch liệt điều gì đó với mấy bạn người Pakistan hay Oman (chẳng hiểu sao tôi rất hay mơ về họ, nhất là khi nào tranh cãi về đề tài diễn ra nảy lửa lúc chiều hay trước đó), lúc đó tôi đã nghĩ “I am there, now”. Nhưng thực ra không phải vậy, tiếng Anh của tôi tuy không lủng củng bằng dạo trước nhưng còn xa mới bằng được người Anh hay ít nhất là còn xa so với tiếng Việt của tôi.
Một sai lầm nữa của tôi khi nghĩ rằng, tôi sẽ không bao giờ quên tiếng Việt. Hẳn nhiều người sống ở Việt Nam và giỏi nhiều ngoại ngữ khác cũng sẽ có cùng suy nghĩ rằng, tiếng Việt không thể nào có thể quên. Họ và tôi đã lầm. Tiếng Việt hoàn toàn có thể quên. Mới có 2,5 năm không nói tiếng Việt thường xuyên, tôi đã bắt đầu viết sai chính tả nhiều và đã phải nhiều lần nhờ đến sự trợ giúp của bác “Lạc Việt”. Gọi điện thoại hay nói chuyện với gia đình thì nhiều lúc phải ngẩn ra mới nhớ được từ hay phải dùng nhiều từ khác để mô tả như “anh trai của vợ gọi là gì?”… “anh rể!” – À đúng rồi, “anh rể”. Tôi nghĩ, đó không phải là hiện tượng quên hoàn toàn mà là hiện tượng quên tạm thời khi tiếng mẹ đẻ không được sử dụng nhiều. Tuy vậy, nếu quan sát những du học sinh rời khỏi Việt Nam ngay từ lúc mới là học sinh phổ thông, việc quên tiếng Việt xảy ra rất nhiều và họ sẽ viết blog với nhiều lỗi sai văn phạm, sai chính tả thường thấy.
Hiện tại, tôi đang học tiếng Hà Lan. Cô giáo vào lớp với những bài giảng vô cùng thực tế. Cô giáo dạy tiếng Hà Lan bằng chính tiếng Hà Lan và nội dung được thiết kế không phải là những áng văn chương tuyệt tác, không phải là mô tả xem cây chà là lớn lên như thế nào, không phải là tường thuật lại một trận đánh hào hùng của hoàng đế Napoleon vĩ đại… Bài giảng là cách đi metro và những phương tiện giao thông công cộng thế nào, ở trong lớp cần biết những câu như “tôi không hiểu”, “cái này nghĩa là gì”, “làm ơn nói chậm lại”, từ nào cần biết để đi siêu thị, từ nào cần biết để hỏi đường… Tiếng Hà Lan thuộc dòng ngôn ngữ “giéc-măng” nên rất khó. Thế mà chỉ trong chưa đầy 2 tháng, từ chỗ tôi không nói một câu tiếng Hà Lan, nay tôi đã có thể hiểu được rất nhiều từ khi mua sắm, rất nhiều câu khi hỏi giờ tàu, hỏi đường xá…
Điều đáng nói là ở đây ai cũng nói được tiếng Hà Lan và tiếng Pháp như là tiếng bản địa. Nếu theo cách làm của Việt Nam thì có thể suy ra, ai cũng có thể dạy được tiếng Hà Lan và tiếng Pháp. Nhưng không, cô giáo của tôi có một kỹ năng giải thích thật kỳ diệu, cô ấy cần phải tốt nghiệp đại học về ngành linguistics mới có thể phát âm và diễn giải. Một điều thú vị là ngay cả một nước nhỏ như nước Bỉ, từng vùng khác nhau đã có phương ngữ khác nhau. Sau này chúng tôi sẽ được học một bài về dialects; cô giáo bảo, cố gắng hiểu nó nhưng đừng sử dụng nó.
Nói tản mạn vậy thôi. Tôi tự nhủ với mình, ngôn ngữ nào không dùng đến thì đều có thể quên bất kể là ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ. Là một nghiên cứu sinh ngành Kinh tế ứng dụng, tôi có nghĩa vụ phải đọc báo từng ngày. Tôi chọn tờ “The Wall Street Journal” mà Nhà trường phát. Tự hứa một tuần 3 buổi sẽ dịch một bài báo sang tiếng Việt; trước là để luyện tiếng Anh, sau là để không quên tiếng Việt.
Rồi bạn sẽ thấy, ngày mai blog mình sẽ có mục “Dịch báo dùm bạn”.
Nhân chuyện đọc được một số bài báo nói về kinh nghiệm học ngoại ngữ, tôi có một vài điều ngẫm ra về chuyện học ngôn ngữ của mình sau một thời gian 2,5 năm sống và học tập tại Châu Âu trong một môi trường nói tiếng Anh gần như hoàn toàn.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Danh sách Blog của Tôi

